Doanh nghiệp nước ngoài

Chính sách kinh tế vĩ mô biến động phức tạp

Bảng kinh tế vĩ mô, điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô tiền tệ ở Việt Nam: Dấu vết giai đoạn 2016 – 2020 và triển vọng, dự báo và hướng dẫn cho giai đoạn 2021 – 2025 Bảng kinh tế vĩ mô giai đoạn 2016 – 2020. Trong bài viết này, day-dreamachiever.com sẽ thông tin đến bạn nội dung này. 

1. Các chính sách kinh tế vĩ mô biến động phức tạp

Trong giai đoạn 2016 – 2020, Thế giới Kinh tế  biến động phức tạp. Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng dẫn đến căng thẳng trầm trọng và chia rẽ thương mại giữa các nước lớn (kinh tế thế giới của Mỹ; Hậu quả nặng nề hơn khi đại dịch Covid-19 bùng phát và  lan rộng khắp thế giới vào năm. Từ đầu năm 2020, kinh tế thế giới bị ảnh hưởng sâu suy thoái  – 4,4% (theo IMF, tháng 10 năm 2020) Thị trường tài chính  tiền tệ quốc tế đầy bất ổn, chính sách tiền tệ của các nước lớn chuyển từ “bình thường hóa” bằng cách tăng lãi suất sang hạ lãi suất và đưa chúng vào thế “ Mức độ chưa từng có “dòng vốn chảy vào các thị trường mới nổi và đang phát triển biến động theo chiều hướng phức tạp do tâm lý ngại rủi ro của các nhà đầu tư từ năm và liên quan đến việc đồng nội tệ  mất giá so với USD.

Trong bối cảnh đó, chúng tôi đã tích cực củng cố nội lực của mình và nắm bắt cơ hội và làm chủ thách thức. Chúa ơi Nền kinh tế khó có thể chịu được tác động của đại dịch Covid-19 trừ khi đẩy mạnh kết quả tích cực của toàn bộ hệ thống chính trị trong quá trình tái cơ cấu  nền kinh tế, thậm chí cả tái cơ cấu  hệ thống kinh tế. Thể chế gắn với quản lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp mới nổi trên cơ sở tinh thần “Chính phủ kiến ​​tạo”, duy trì tính bền vững, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tích cực hội nhập với việc ký kết một số hiệp định song phương.

các chính sách kinh tế vĩ mô cần thiết

Hình 1: Các Hiệp định Thương mại và Đầu tư  đa phương (KVFTA, CPTPP, EVFTA, EVIPA, RCEP, …).

Trong giai đoạn 2016-2019, ngay trước  đại dịch, nền kinh tế Việt Nam  tỏ ra năng động với tốc độ tăng trưởng GDP  bình quân đạt 6,8% / năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện nhờ  năng suất cao1; Lạm phát được giữ ở mức dưới 4% 2, tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, hỗ trợ xuất khẩu và thặng dư thương mại đang diễn ra liên quan đến sự suy giảm thương mại quốc tế.

IMF ước tính quy mô GDP của Việt Nam có thể đứng thứ tư trong ASEAN vào năm 2020; tỷ trọng tín dụng quốc gia liên tục tăng.

Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch, với những chính sách đúng đắn của Chính phủ, tăng trưởng kinh tế  Việt Nam tiếp tục đạt 2,91% – nằm trong nhóm các nước phát triển nhanh nhất thế giới và dẫn đầu các nước ASEAN; trong khi môi trường vĩ mô tiếp tục ổn định.

các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng

Hình 2: Lạm phát cơ bản bình quân năm 2020 ở mức 2,31%, giúp kiểm soát lạm phát bình quân chung ở mức 3,23%.

2. Đóng góp từ  điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)

Thứ nhất, sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát tỷ giá và đạt mục tiêu lạm phát đề ra Thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã nhất quán đề ra mục tiêu lạm phát hàng năm khoảng 4% để Chính phủ trình Quốc hội thông qua nhằm đảm bảo ổn định và giữ kỳ vọng lạm phát. Các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ, không vướng mắc về kiểm soát tiền tệ; Chính sách tiền tệ đã được phối hợp chặt chẽ với các chính sách vĩ mô khác để điều tiết thanh khoản và điều chỉnh mặt bằng giá do Chính phủ quản lý trong năm

nhằm đạt  mục tiêu lạm phát đề ra. Kết quả cho thấy tổng tiền mặt (M2)  được kiểm soát đầy đủ trong giai đoạn này, chỉ tăng trong khoảng 12,21-15% mỗi năm, qua đó ổn định lạm phát cơ bản trong khoảng 1,41-2,31% và tạo dư địa cho chính phủ.

các chính sách kinh tế vĩ mô

Hình 3: Điều chỉnh giá  hàng hóa, dịch vụ do nhà nước quản lý phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát do Quốc hội đề ra năm.

>>>>>>>>>Xem thêm dịch vụ kế toán giá rẻ, chuyên nghiệp uy tín tại Uydanh.vn

Thứ hai, đảm bảo cung cấp tín dụng an toàn, hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế nhưng không bị lạm phát và nhanh chóng thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người vay  bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. 19.

Hàng năm, căn cứ vào mục tiêu tăng trưởng và lạm phát do Quốc hội đề ra, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng, có sự điều chỉnh theo diễn biến và tình hình thực tế; Công bố và rà soát linh hoạt các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng tổ chức cho vay.

Trong giai đoạn 2016-2019, tăng trưởng tín dụng chậm lại từ  18,25% xuống 13,65%, trong khi tăng trưởng kinh tế lần lượt tăng từ 6,21% lên hơn 7% trong năm 2018 và 2019. Các chương trình, chính sách tín dụng theo ngành, lĩnh vực tiếp tục thực hiện tốt, kể cả các lĩnh vực ưu tiên theo chính sách của Chính phủ như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, v.v.; Cho vay các lĩnh vực tiềm  ẩn rủi ro được kiểm soát phù hợp và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế bền vững (Biểu đồ 1). Để tìm hiểu thêm thông tin bạn có thể tham khảo website: uydanh.vn

Related Articles

Back to top button