Chính sách người dânDoanh nghiệp nước ngoàiHợp tác xã

Làm Thế Nào Để Ổn Định Tài Chính

Bài viết tập trung phân tích những vấn đề cơ bản của ổn định tài chính: khái niệm, đặc điểm và nguyên nhân của bất ổn của nền tài chính. Trong bài viết dưới đây, stephieann.net sẽ giải đáp những thắc mắc này cho bạn.

1. Khái niệm về ổn định tài chính

Về cơ bản, các định nghĩa về dựa trên hai cách tiếp cận chính.

Mặc dù cùng tuyên bố rằng là sự ổn định của hệ thống tài chính,  các tổ chức và  nhà nghiên cứu  có những quan điểm khác nhau khi nói đến ổn định tài chính.

– Nhìn từ góc độ chức năng của hệ thống tài chính. Điển hình của cách tiếp cận này là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) khi họ định nghĩa: “Ổn định tài chính là trạng thái đạt được khi hệ thống tài chính thực hiện đầy đủ  chức năng của nó.” Cách tiếp cận này của IMF và Ngân hàng Thế giới dựa trên vai trò của hệ thống tài chính theo nghĩa khá rộng, trong đó hệ thống tài chính được coi là ổn định, tức là có  khả năng phân bổ  nguồn lực, đánh giá và quản lý rủi ro tài chính một cách hiệu quả. Giữ tỷ lệ việc làm gần với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên của nền kinh tế và tương đối loại trừ  biến động giá  tài sản  và bất động sản  có thể ảnh hưởng đến sự ổn định tiền tệ hoặc tỷ lệ  việc làm.Ngoài ra, hệ thống tài chính ổn định  có thể đạt được nếu những mất cân đối tài chính phát sinh trong nội bộ hoặc bị ảnh hưởng bất lợi bởi những cú sốc bất ngờ bên ngoài có thể được giải quyết. Khi đạt được sự ổn định, hệ thống  hấp thụ các cú sốc chủ yếu thông qua cơ chế tự điều chỉnh, do đó ngăn ngừa các tác động bất lợi của các sự kiện bên ngoài. Ổn định tài  chính là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, vì mọi giao dịch trong nền kinh tế thực đều được thực hiện thông qua hệ thống tài chính.

Hình 1: Cách tiếp cận này của IMF / Ngân hàng

– Nhìn từ góc độ các thành phần của hệ thống tài chính. Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK) xây dựng trên quan điểm này và đưa ra định nghĩa  sau: “Đây là một hệ thống tài chính với ba thành phần: tổ chức tài chính, thị trường tài chính và cơ sở hạ tầng.

Cách tiếp cận này của IMF / Ngân hàng Thế giới dựa trên vai trò của hệ thống theo nghĩa khá rộng, trong đó  một hệ thống tài chính được coi là ổn định,  nghĩa là nó có khả năng phân bổ  nguồn lực, đánh giá và quản lý rủi ro tài chính một cách hiệu quả. Giữ tỷ lệ việc làm gần với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên của nền kinh tế và  tương đối hạn chế biến động giá của  tài sản bất động sản và bất động sản  có thể ảnh hưởng đến sự ổn định tiền tệ hoặc tỷ lệ  việc làm.

Ngoài ra, hệ thống  có thể đạt được khi các mất cân đối tài chính phát sinh trong nội bộ hoặc bị ảnh hưởng bởi các cú sốc bất ngờ từ bên ngoài có thể được loại bỏ. Khi đạt được sự ổn định, hệ thống  hấp thụ các cú sốc chủ yếu thông qua cơ chế tự điều chỉnh, do đó ngăn ngừa các tác động bất lợi của các sự kiện bên ngoài. Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, vì mọi giao dịch trong nền kinh tế thực đều được thực hiện thông qua hệ thống tài chính.

– Nhìn từ góc độ các thành phần của hệ thống tài chính.Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK) xây dựng trên quan điểm này và đưa ra định nghĩa  sau: “Đây là một hệ thống tài chính với ba thành phần: tổ chức tài chính, thị trường và cơ sở hạ tầng. Trong đó:

(i) sự ổn định của tổ chức tồn tại khi mỗi tổ chức tài chính đủ  mạnh để thực hiện đầy đủ và suôn sẻ tất cả các chức năng trung gianmà không cần  sự hỗ trợ của các tổ chức bên ngoài, bao gồm cả chính phủ;

(ii) sự ổn định của thị trường tài chính đạt được khi không có sự gián đoạn lớn trong các giao dịch trên thị trường cũng như không có  biến động  lớn về giá tài sản, do đó cho phép các tác nhân kinh tế  huy động và sử dụng  vốn  một cách tự tin và hiệu quả;

(iii) Cơ sở hạ tầng là trạng thái trong đó hệ thống được cấu trúc tốt để đảm bảo áp dụng thông suốt kỷ luật thị trường, mạng lưới an toàn tài chính và hệ thống thanh toán, giao dịch được tiến hành một cách hiệu quả ”.

Dựa trên cách tiếp cận này, Crockett (1997) đã đưa ra khái niệm “ là sự của các tổ chức tài chính và các thị trường tài chính chủ chốt trong hệ thống tài chính. Điều này có nghĩa là:

(i) các tổ chức chủ chốt của hệ thống, có nghĩa là các tổ chức này có thể tiếp tục thực hiện các giao dịch tài chính và nghĩa vụ tài chính mà không bị suy giảm, gián đoạn hoặc cần  sự hỗ trợ từ bên ngoài;

(ii) Thị trường tài chính phải ổn định trong đó những người tham gia có thể tham gia vào các giao dịch tài chính ở mức giá phản ánh nguồn lực cơ bản và không  thay đổi bền vững trong một thời gian ngắn. ”Định nghĩa này rất giống với  định nghĩa của BOK khi nó thảo luận về tầm quan trọng của việc  ổn định các tổ chức tài chính và thị trường tài chính

Hình 2: mặc dù vai trò của cơ sở hạ tầng không được đề cập đến.

2.  Ổn định tài chính thông qua bất ổn tài chính (cách tiếp cận gián tiếp).

Một số nhà nghiên cứu độc lập giải quyết vấn đề ổn định tài chính bằng cách xem xét các điều kiện bất lợi trong hệ thống tài chính gây khó khăn cho việc duy trì mục tiêu ổn định.

Hình 3: Sự bất ổn gián tiếp

Mishkin (1994) đưa ra một khái niệm dựa trên vấn đề thông tin. Ông nói: “Bất ổn tài chính xảy ra khi có những cú sốc trong hệ thống tài chính ảnh hưởng đến thông tin và kết quả là hệ thống tài chính không thể thực hiện chức năng dẫn  vốn đến các cơ hội đầu tư hiệu quả”.“Sự khác biệt và thông tin không đầy đủ  (bất cân xứng thông tin) giữa các bên tham gia trên  thị trường sẽ làm  tăng rủi ro (rủi ro lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức), cản trở sự luân chuyển vốn và ở mức độ cao hơn là gây ra khủng hoảng kinh tế và tài chính. Định nghĩa này được coi là rất đầy đủ, nhưng rất khó quan sát, nó không đưa ra bất kỳ tiêu chí hay chỉ số nào về các quan điểm  khác nhau.

Tóm lại, ổn định tài chính nhằm mục đích ổn định hệ thống tài chính và đảm bảo rằng hệ thống tài chính có thể hoạt động đầy đủ và liên tục. Để tìm hiểu thêm thông tin bạn có thể tham khảo website: https://uydanh.vn/

Related Articles

Back to top button